Thực phẩm hữu cơ
13/01/2021

 

Nhận thức về những thách thức trong cơ hội nghiên cứu và phát triển thực phẩm hữu cơ tại Việt Nam

Nguyễn Văn Kiên PhD

 

Tóm tắt :

Kể từ khi bắt đầu cuộc cách mạng xanh trong những năm 1970, nông dân Việt Nam đã chuyển đổi cách canh tác tự nhiên của họ sang nông nghiệp thông thường bằng cách sử dụng lúa và rau lai ngắn hạn và đầu vào thâm canh của hóa chất nông nghiệp. Thật không may, xã hội Việt Nam ngày nay có một mối quan tâm đáng kể về tác dụng phụ của nông nghiệp thông thường đối với sức khỏe con người và môi trường tự nhiên. Có một nhu cầu mạnh mẽ về thực phẩm an toàn hoặc thực phẩm hữu cơ ở các khu vực thành thị cũng như các cộng đồng nông thôn. Để đối phó với vấn đề này, chính phủ đã khởi xướng chiến lược nông nghiệp hữu cơ cho Việt Nam vào năm 2017 trong khi người trồng và chế biến con-tinue để thực hành nông nghiệp hữu cơ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu trong thậpkỷqua. Dựa trên bằng chứng từ 36 cuộc phỏng vấn chuyên sâu (nghiên cứu định tính) với các quan chức chính phủ, các nhà nghiên cứu, các nhà phi chính phủ, truyền thông, nhà chế biến và người trồng hữu cơ ở Việt Nam, chương này nhằm mục đích làm sáng tỏ ngành công nghiệp hữu cơ. Báo cáo đặt ra một spotlight về nhận thức của các bên liên quan với tham chiếu cụ thể đến (1) phạm vi áp dụng nông nghiệp hữu cơ, đặc biệt là canh tác lúa hữucơ, (2) nhận thức về các tiêu chuẩn và thịtrường trong nước và quốc tế về thực phẩm hữu cơ, (3) nhận thức về chính sách đối với phong trào nông nghiệp hữu cơở Việt Nam, và (4) nhận thức về các hoạt động nghiên cứu hiện tại về nông nghiệp hữu cơ và thực hành trong nước. Ngoài ra còn có một đánh giá về các tài liệu và hồ sơ của các hoạt động nghiên cứu hiện tại tại các viện nghiên cứu nông nghiệp và các trường đại học quan trọng ở Việt Nam được đưa ra.

Từ khóa Nông nghiệp hữu cơ · Tiêu chuẩn và chứng nhận hữu cơ · Nhận thức · Các bên liên quan · Việt Nam

V. K. Nguyễn (*)

Trường Môi trường & Xã hội Fenner, Đạihọc Quốc gia Úc, Canberra, Úc

Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Nông thôn, Đại học An Giang, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Long Xuyên, Việt Nam

Mekong Organics Pty Ltd, Canberra ACT, Úc e-mail: nv.kien@anu.edu.au
GOH Bee Chen, R. Price (chủ biên), Các vấn đề pháp lý về an toàn thực phẩm hữu cơ ở Châu Á Thái Bình Dương,  https://doi.org/10.1007/978-981-15-3580-2_12


12.1 Nền tảng nghiên cứu nông nghiệp hữu cơ vàde velopment tại Việt Nam

Ngăn chặn sự phát triển và phân phối thực phẩm không an toàn là ưu tiên hàng đầu của chính phủ Việt Nam. Hầu hết người tiêu dùng và người mua tại Việt Nam đều tỏ ra lo ngại về chất lượng rau an toàn (Wang et al. 2012). Khoảng 88,5% người dân Hà Nội lo lắng về chất lượng rau quả do sử dụng rộng rãi các nguyên liệu đầu vào nông nghiệp (Wang et al. 2012).
 

Chính phủ Việt Nam nhận thấy thực phẩm không an toàn là nguyên nhân gốc rễ của các vấn đề sức khỏe toàn cầu và tác động tiêu cực đến kinh tế- xã hội (19/04/2018). Chính phủ đặc biệt quan tâm đến an toàn thực phẩm cho quốc gia và xuất khẩu.

Thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ là một lựa chọn quan trọng để cải thiện dinh dưỡng và sức khỏe an toàn thực phẩm. Theo IFOAM (2015), nông nghiệp hữu cơ được định nghĩa là "một hệ thống sản xuất duy trì sức khỏe của đất, hệ sinh thái và con người. Nó dựa trên các quá trình sinh thái, đa dạng sinh học và chu kỳ thích nghi với điều kiện địa phương, chứ không phải là việc sử dụng các đầu vào với các tác dụng phụ. Nông nghiệp hữu cơ kết hợp truyền thống, sáng tạo và khoa học để mang lại lợi ích cho môi trường chia sẻ và thúc đẩy các mối quan hệ công bằng và chất lượng cuộc sống tốt cho tất cả các bên liên quan". Từ quan điểm này, nông nghiệp hữu cơ là quan trọng để hỗ trợ không chỉ cho sức khỏe của đất mà còn là sức khỏe của hệ sinh thái và con người.

Nông nghiệp hữu cơ của Việt Nam có thể được phân thành ba hình thức: nông dân hữu cơ truyền thống, nông dân hữu cơ cải cách và nông dân hữu cơ được chứng nhận. Nhiều nông dân đã phát triển các trang trại hữu cơ quy mô nhỏ ở các cấp độ cá nhân mà không có chứng nhận và kiểm tra hữu cơ. Chứng nhận hữu cơ tại Việt Nam được chia thành 3 loại: tiêu chuẩn chứng nhận quốc tế, PGS (bảo lãnh có sự tham gia của IFOAM International) do IFOAM International khởi xướng và Tiêu chuẩn chứng nhận hữu cơ quốc gia Việt Nam 2017 (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 2019). Tuy nhiên, chứng chỉ quốc tế và hệ thống bảo lãnh có sự tham gia (PGS) đang hoạt động tại Việt Nam. Các tiêu chuẩn này bao gồm USDA, JAS và EU.

Tiêu chuẩn hữu cơ quốc gia của Việt Nam được ban hành vào năm 2017 nhưng chưa hoạt động. Theo FiBL và IFOAM (2017), Việt Nam có 76.666 ha đất canh tác hữu cơ, thấp hơn nhiều so với một số nước Đông Nam Á như Indonesia và Philippines (Bảng 12). 1). Tuy nhiên, trở lại năm 2013, diện tích hữu cơ được chứng nhận tại Việt Nam là 31.700 ha bao gồm 22 ha CỦA PGS (Hệ thống bảo lãnh có sự tham gia), trong số các khu vực này, 23.400 ha đất nông nghiệp, 7000 ha

Bảng 12.1 Đất  nông nghiệp hữu cơ theo quốc gia, 2012–2015

Nước

Năm 2012 ha

Năm 2013

Năm 2014

Năm 2015

Tăng trưởng 1 năm

10 năm tăng trưởng

 

 

 

 

 

 

 

Indonesia

88,247

65,688

113,638

130,384

+16.746

+89.965

 

 

 

 

 

 

 

Philippines

80,974

86,155

110,084

234,642

+124.558

+228.951

 

 

 

 

 

 

 

Vietnam

36,285

37,490

43,007

76,666

+33,659

+54.799

 

 

 

 

 

 

 

Thái lan

32,577

33,840

37,684

45,587

+7903 (7903)

+23.037

 

 

 

 

 

 

 

Campuchia

9055

9889

9889

12,058

Năm 2169

+10.607

 

 

 

 

 

 

 

 

Nguồn: FiBL và IFOAM (2017)

nuôi trồng thủy sản, và 1300 ha cho bộ sưu tập thực phẩm hoang dã đã được báo cáo (Hương  2017). Năm 2015, Việt Nam đã có 5 triệu euro trong các sản phẩm hữu cơ bán lẻ trong nước, và xuất khẩu € 817 triệu Euro (5,5 triệu USD và 900 USD, 000, 000) (FiBL và IFOAM  2017).

Tuy nhiên, phong trào nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam đang trong giai đoạn đầu và đòi hỏi phải nghiên cứu và đầu tư rộng rãi để phát triển bền vững. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường phát biểu tại Đại hội toàn quốc lần thứ nhất về thực phẩm hữu cơ vào tháng 12/2017 rằng nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam vẫn còn kém phát triển (Dũng 2017). Tại sự kiện này, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định, phát triển nông nghiệp hữu cơ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và không chỉ là thời trang (Hiệp hội Nông nghiệp Việt Nam ngày27/12/2017). Quốc hội đã nêu ra một số câu hỏi chính: (1) thị trường trọng điểm cho nông nghiệp hữu cơ là gì? (2) người trồng là ai? (3) Quy mô tối ưu cho nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam là gì? (4) cây trồng, vật nuôi nào nên là sản phẩm hữu cơ chủ lực cho Việt Nam? và (5) Những tiêu chuẩn nào phù hợp với Việt Nam? Tất cả những câu hỏi như vậy chỉ hướng tới sự phát triển của chính sách để thúc đẩy ngành công nghiệp nông nghiệp tương đối mới này. Đại hội cũng chỉ ra rằng Việt Nam có tiềm  năng đặc biệt trong việc thúc đẩy các loại rau hữu cơ, nấm, trái cây, trà, thảo dược, cây dược liệu, nuôi trồng thủy sản (tôm), mật ong, cà phê và giấy (Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam ngày 27 tháng  12 năm 2017).

Các thảo luận chính sách nông nghiệp hữu cơ đã tăng trong những năm gần đây. Tại hội thảo năm 2019 tại TP.HCM, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khẳng định, Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức trong phát triển nông nghiệp hữu cơ bao gồm (1) thiếu khung chính sách đặc biệt cho nông nghiệp hữu cơ phát triển nông nghiệp hữu cơ, (2) nông nghiệp hữu cơ chưa hoàn thiện, (3) ít doanh nghiệp có chứng chỉ hữu cơ quốc tế và (4) quy mô trang trại nhỏ (Bo Nông Nghiệp và Phát Trien Nông Thon

Để làm nổi bật tình trạng kiến thức về nông nghiệp hữu cơ, chương này cung cấp cái nhìn sâu sắc về nhận thức về nghiên cứu và phát triển nông nghiệp hữu cơ từ các bên liên quan khác nhau ở Việt Nam. Cụ thể, chương này đề cập đến 4 vấn đề: (1)nhận thức của các bên liên quan về việc áp dụng nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam, (2) nhận thức về nông nghiệp hữu cơ trong nước và quốc tế theo tiêu chuẩn của nó, (3)nhận thức về các chính sách nông nghiệp hữu cơ và (4) nhận thức về các hoạt động nghiên cứu hiện nay về nông nghiệp hữu cơ và thực hành trong nước.

12.2 Đánh giá nhận thức về nông nghiệp hữu cơ

Có một khung ngày càng tăng về nhận thức của nông nghiệp hữu cơ trong những năm gần đây. Phần lớn, nghiên cứu nhận thức về nông nghiệp hữu cơ đã được khám phá ở các nước phát triển (Gamboni và Moscatelli  2015; Wägeli và Hamm  2016; Janssen và Hamm  2011). Ở Đông Nam Á, chỉ có một vài ví dụ về nghiên cứu về nhận thức về những thách thức và cơ hội của nông nghiệp hữu cơ, hầu hết dắng chú ý từ Indonesia và Philippines (Jouzi et al. 2017; Wägeli và Hamm  2016; Et al của tôi. 2017).

12.2.1 Cơ hội canh tác hữu cơ trên toàn cầu

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng nông nghiệp hữu cơ có một số lợi thế. Jouzi et al. (2017) cho thấy những lợi ích đáng kể nhất là khả năng phục hồi cao hơn đối với những thay đổi môi trường, cũng như cải thiện thu nhập của nông dân, năng lực xã hội và cơ hội việc làm. Tại Pháp, nông dân chăn nuôi bò sữa nhận thức được rằng nông nghiệp hữu cơ là ít rủi ro và cung cấp một mức giá ổn định (Bouttes et al. 2019). Tổng lượng nước, năng lượng và khí nhà kính có thể được giảm trong hệ thống sản xuất thực phẩm hữu cơ (Wood et al. 2006). Một loạt các niềm tin mâu thuẫn và thực hành có nguồn gốc từ xung đột rời rạc giữa thông thường và các ngành công nghiệp thực phẩm hữu cơ trên môi trường, sức khỏe và tuyên bố an toàn (Lockie et al. Năm 2002). Một nghiên cứu của Mergenthaler et al. (2009) cho thấy người tiêu dùng các khu vực đô thị của Việt Nam sẵn sàng trả phí bảo hiểm trung bình là 60% cho mù tạt Trung Quốc không hóa chất. Vì vậy, nhu cầu về thực phẩm hữu cơ với giá cao hơn cho thấy người tiêu dùng Việt Nam ngày càng giàu có và quan tâm đến thực phẩm an toàn cho sức khỏe. Giá thực phẩm hữu cơ nhập khẩu cao gấp 5 lần so với thực phẩm thông thường tại thị trường châu Á (Mutiara và Satoshi  2017).

12.2.2 Những thách thức của nông nghiệp hữu cơ trên toàn cầu

Tuy nhiên, canh tác hữu cơ ở Đông Nam Á phải vượt qua những thách thức đáng kể. Chi phí chứng nhận hữu cơ quốc tế cao cho nông dân trong quốc gia phát triển (Mutiara và Satoshi  2017). Mặc dù người tiêu dùng muốn mua một sản phẩm hữu cơ với giá cả hợp lý, để nhận được chứng nhận nhãn hữu cơ đòi hỏi chi phí cao dẫn đến giá bán cao (Mutiara và Satoshi 2017). Thực phẩm hữu cơ vẫn là một sản phẩm thích hợp, tiêu thụ bởi một thiểu số người tiêu dùng (Lyons  1999). Tuy nhiên, bằng cách tăng cường truyền thông của người tiêu dùng chất lượng thực phẩm hữu cơ với các giá trị môi trường mạnh mẽ có thể giúp tăng giá cho thực phẩm hữu cơ (Loebnitz và Aschemann-Witzel  2016). Phạm và Shively -2019- cho thấy lợi nhuận từ rau hữu cơ thấp hơn so với các loại rau trồng thông thường. Cũng có ý kiến cho rằng không có sự khác biệt đáng kể giữa lợi ích xã hội và môi trường của các hệ thống thông thường và hữu cơ(Baumgartner và Nguyen  2017). Hơn nữa, nông dân gặp khó khăn trong quản lý đất (Jouzi et al. 2017).

Nhận thức về các tiêu chuẩn chứng nhận hữu cơ còn thấp ở cả hai nước phát triển và đang phát triển. Năm2017,người tiêu dùng nhận thấyngười tiêu dùng nhận thức thấp về các tiêu chuẩn liên quan đến chất lượng thực phẩm như organic và Global GAP, và phân tích nguy cơ và các điểm kiểm soát quan trọng (HACCP) tại Việt Nam. Tại Ý và Vương quốc Anh, phần lớn những người tham gia đã không nhận thức được bất kỳ sự khác biệt giữa các chương trình đã được thảo luận. Tại Cộng hòa Séc, Đan Mạch và Đức, một số người tham gia đã giới thiệu trước một chương trình chứng nhận hữu cơ đặc biệt so với các chương trình khác (Janssen và Hamm 2011).

Kiểm soát chất lượng thực phẩm hữu cơ là một trong những mối quan tâm hàng đầu của người tiêu dùng khi mua thực phẩm tại Việt Nam. Wang et al. (2012) kết luận rằng lãnh đạo tập đoàn và phát huy tinh thần trách nhiệm của người nông dân là cách chính để các tổ chức nông dân Việt Nam hiện nay đảm bảo sản xuất ra một sản phẩm chất lượng cao(Wang et al. 2012).

Năng suất là một vấn đề quan trọng trong việc áp dụng nông nghiệp hữu cơ. Năng suất hữu cơ của cây trồng cá nhân là trung bình 80% sản lượng thông thường (Ponti et al. 2012; Jouzi et al. 2017).

Ngành nông nghiệp hữu cơ ở Đông Nam Á phải đối mặt với một thách thức đối với cả các sản phẩm xuất khẩu hữu cơ không dễ hỏng và dễ hỏng. Trong trường hợp của Indonesia, các sản phẩm xuất khẩu không dễ hỏng (cà phê, trà, gạo, v.v.) phải đối mặt với các vấn đề chứng nhận của các sản phẩm hữu cơ dễ hỏng (sản phẩm làm vườn thô) được cung cấp quá nhiều (David và Ardiansyah  2017).

Lợi nhuận kinh tế từ gạo hữu cơ không hấp dẫn đối với nông dân ở một số quốc gia. Lợi nhuận kinh tế từ canh tác lúa hữu cơ thấp hơn so với gạo thông thường theo kinh nghiệm của Bhutan. Nếu gạo hữu cơ đáp ứng giá cao, thì Tỷ lệ lợi ích - chi phí (BCR) của một hệ thống hữu cơ có thể trở nên tương tự hoặc cao hơn so với một hệ thống thông thường ở Bhutan (Tashi và Wangchuk  2016).

Nông dân trồng lúa hữu cơ phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc duy trì tính bền vững. Năm2018, Heryadi và cộng sự đã tìm thấy hơn 85% nông dân trồng lúa hữu cơ được chuyển đổi sang canh tác lúa hữu cơ ở Indonesia nhờ các yêu cầu về kinh tế, kỹ thuật, thể chế và lúa hữu cơ. Ngoài ra, nông dân trồng lúa Pilipino chủ yếu nhận được sự hỗ trợ từ các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức tư nhân trong việc tăng cường sản xuất lúa hữu cơ thay vì các chính phủ (Digal và Placencia 2019; Piadozo et al. 2014). Nông dân trồng lúa có mức độ nhận thức thấp đến trung bình về thực hành canh tác hữu cơ và thị trường ở Philippines (Piadozo et al. 2014). Nông dân và người tiêu dùng Bangladesh đã nhận thức được mối nguy hiểm của các hợp chất hóa học nhưng có rất ít kiến thức về gạo hữu cơ (Hossain et al. 2007). Nông dân trồng lúa Việt Nam chủ yếu quan tâm đến việc sử dụng hóa chất nông nghiệp trong các hệ thống lúa-tôm rộng lớn để ngăn ngừa tác hại cho tôm (Braun et al. 2019).

Trong việc áp dụng thực hành canh tác hữu cơ tại Việt Nam, ông Phạm và ông Shively chorằng nông dân cần biết được lợi ích kinh tế và thách thức của canh tác hữu cơ. Họ cũng gợi ý rằng nông dân cần xây dựng một kế hoạch tiếp thị và làm việc cùng nhau để thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ bền vững ở Việt Nam (Pham và Shively  2019).

12.3 Phương pháp nghiên cứu định tính

Sau khi tiến hành một bài đánh giá văn học ngắn gọn về nhận thức chính, một phương pháp định tính sẽ được thông qua. Các cuộc phỏng vấn chuyên sâu với các chuyên gia và những người cung cấp thông tin quan trọng đã được tuyển dụng. Các cuộc phỏng vấn chuyên sâu được thực hiện bởi các cuộc gặp mặt trực tiếp giữa các nhà nghiên cứu và người cung cấp thông tin hướng tới sự hiểu biết quan điểm của người cung cấp thông tin về cuộc sống, kinh nghiệm hoặc tình huống của họ như được thể hiện bằng chính lời nói của họ (Creswell  1994).

Lấy mẫu có chủ đích hỗ trợ một nhà nghiên cứu để lựa chọn các trường hợp giàu thông tin cho một sự hiểu biết sâu sắc về chủ đề này (Liamputtong  2009:11-12). Phương pháp này được áp dụng để phỏng vấn các bên liên quan cụ thể tại Việt Nam. Trong nghiên cứu này, tôi phỏng vấn nhân viên NGO, cơ quan chính phủ, khu vực tư nhân (bộ xử lý, bán lẻ, bán buôn và các doanh nghiệp nhỏ), các nhà nghiên cứu, người trồng hữu cơ, phương tiện truyền thông và các cơ quan chứng nhận hữu cơ quốc tế và trong nước đang làm việc trong các lĩnh vực nông nghiệp hữu cơ nông nghiệp, chế biến, tiếp thị và nghiên cứu. Bài báo này cũng sử dụng một phương pháp lấy mẫu quả cầu tuyết để tiếp cận người được phỏng vấn (Creswell  1994). Tổng cộng 36 cuộc phỏng vấn chuyên sâu đã được thực hiện bằng cách sử dụng một câu hỏi bán cấu trúc thông qua skype và email trong tháng tư và tháng mười 2019 (Bảng  12.2).

Bảng 12.2 Danh  sách người được phỏng vấn

Tham gia

 

Mẫu

 

 

Các loại bên liên quan

Kích thước

Tỉnh (tên của các bên liên quan)

 

 

 

 

F

Người trồng/nhỏ

10

1. An Giang: Trang trại rau Ech Op

 

Doanh nghiệp

 

 

 

 

2. Bình Phước: Pháp hữu cơ ViệtHà rm

 

 

 

 

 

 

 

 

3.

Đồng Tháp: Trang trại sinh thái Tâm Việt

 

 

 

 

 

 

 

 

4.

Cần Thơ: Xã hội Anh Ba Việt Nam

 

 

 

Doanh nghiệp

 

 

 

 

 

 

 

 

5.

Sóc Trăng: Trang trại Ngoi Sao Nho

 

 

 

 

 

 

 

 

6.

Hải Phòng: Trang trại Cao Ruoi

 

 

 

 

 

 

 

7. Đồng Tháp: Công ty Gạo Cô May

 

 

 

 

 

 

 

8. An Giang: Công ty Gạo Tân Vương

 

 

 

 

 

 

 

 

9.

Kiên Giang: Tôm gạo hữu cơ

 

 

 

 

 

 

 

10. Đồng Tháp: Trang trại sinh thái Tâm Việt

 

 

 

 

P

Bộ vi xử lý

2

1. THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: Công ty Gạo Ông Thọ

 

 

 

 

 

 

 

 

2.

Bình Phước: Trang trại/gia công Việt Hà

 

 

 

 

S

Bán lẻ / bán buôn

3

1. THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: Công ty Gạo Ông Thọ

 

 

 

 

 

 

 

 

2.

Cần Thơ: Xã hội Anh Ba Việt Nam

 

 

 

Doanh nghiệp

 

 

 

 

 

 

 

3. An Giang: Trang trại rau Ech Op

 

 

 

 

R

Nghiên cứu

11

1. An Giang: Trường Đại học An Giang (4 trường hợp)

 

 

 

 

 

 

 

 

2.

Cần Thơ: Đại học Cần Thơ (2 trường hợp)

 

 

 

 

 

 

 

 

3.

Kiên Giang: Trường Đại học Kiên Giang (1)

 

 

 

trường hợp)

 

 

 

 

 

 

 

 

4.

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: Đại học Quốc gia TPHCM

 

 

 

Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

 

 

 

(1 trường hợp)

 

 

 

 

 

 

 

 

5.

Hà Nội: Viện Chiến lược chính sách cho

 

 

 

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

 

 

 

Chúngta phải đi đây.

 

 

 

 

 

 

 

 

6.

Cần Thơ: Đại học Tây Đô (1 trường hợp)

 

 

 

 

 

 

 

 

7.

Hà Nội: Học viện Nông nghiệp Việt Nam (1)

 

 

 

trường hợp)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(tiếp theo)


12 Nhận thức về những thách thức trong cơ hội nghiên cứu thực phẩm hữu cơ ...

205

Bảng 12.2  (tiếp theo)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tham gia

 

Mẫu

 

 

 

Các loại bên liên quan

Kích thước

Tỉnh (tên của các bên liên quan)

 

 

 

 

 

 

 

A

Hiệp hội/Tổ chức phi chính phủ

4

1.

Hà Nội: Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam

 

 

 

 

Hiệp hội

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2.

Cần Thơ: Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam

 

 

 

Công nghệ Associations

 

 

 

 

 

 

 

 

 

3. Cần Thơ: Trang trại thanh niên ĐBSCL

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

4.

Hà Tĩnh: Trường nông nghiệp sinh thái HEPA

 

 

 

 

 

G

Nhân viên chính phủ

3

1. An Giang: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

 

 

 

Phát triển nông thôn

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2.

Đồng Tháp: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

 

 

 

Phát triển nôngthôn ent

 

 

 

 

 

 

 

 

 

3.

Kiên Giang: Sở Khoa học và Công nghệ

 

 

 

Công nghệ

 

 

 

 

 

 

 

C

Hữu cơ quốc tế

1

1.

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: Đoàn kiểm soát

 

 

Cơ quan chứng nhận

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

C

Hữu cơ trong nước

1

1.

Hà Nội: PGS.

 

 

Cơ quan chứng nhận

 

 

 

 

 

 

 

 

 

M

Xã hội Media

1

1.

Cần Thơ: Báo Người Lao Động

 

 

 

 

 

 

Tất cả

 

36

 

 

 

 

 

 

 

 

Lưu ý: Bảng câu hỏi đã được gửi và nhận qua email cá nhân

 


12.4 Kết quả

12.4.1 Lợi ích của canh tác hữu cơ từ quan điểm  'Các bênliênquan' ở Việt Nam

Nghiên cứu này được thực hiện thông qua các cuộc phỏng vấn chuyên gia về việc áp dụng canh tác hữu cơ ở Việt Nam từ lãnh đạo các hiệp hội nông nghiệphữu cơ, các nhà nghiên cứu cao cấp tại các trường đại học và các tổ chức nghiên cứu, khu vực kinh doanh tư nhân, các tổ chức phi chính phủ và ngườitrồng hữu cơ trên khắp Vietnam. Kết quả cho thấy hầu hết các đại biểu đề cập đến lợi ích của nông nghiệp hữu cơ vì nhiều lý do: thúc đẩy an toàn thực phẩm, thay đổi thói quen canh tác hiện nay mà lạm dụng hóa chất nông nghiệp, cải thiện sức khỏe con người, nhu cầu thực phẩm hữu cơ mới nổi, ưu đãi đầu tư từ khu vực doanh nghiệp và sự hỗ trợ của chính phủ Việt Nam.

12.4.1.1 Nông nghiệp hữu cơ: Các vấn đề môi trường và sức khỏe

Theo một nhà nghiên cứu thực phẩm hữu cơ ở miền Nam Việt Nam (trong một cuộc phỏng vấn cá nhân vào tháng 7/2019), việc ứng dụng nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam là rất quan trọng và cấp bách. Các hệ thống canh tác thông thường hiện tại phá hủy hệ sinh thái, môi trường và sức khỏe con người. Ngoài ra, nhận thức thấp về thực phẩm an toàn bằng cách sử dụng hóa chất bảo quản để lưu trữ và chế biến thực phẩm ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Để thúc đẩy canh tác hữu cơ, một chính sách là rất quan trọng để duy trì nông nghiệp hữu cơ trong dài hạn.

Trong một cuộc đối thoại với một chuyên gia phi chính phủ tại Hà Nội (giao tiếp cá nhân vào tháng 5 năm 2019) đã tiết lộ rằng việc áp dụng canh tác hữu cơ là một quá trình lựa chọn đất, nước và nguồn nhân lực. Sự phát triển của canh tác hữu cơ ở Việt Nam không nhất thiết có nghĩa là tất cả mọi người hoặc ở khắp mọi nơi sẽ áp dụng một nền vănhóa hữucơ. Để sản xuất thực phẩm hữu cơ, lựa chọn diện tích đất phù hợp, đánh giá điều kiện sản xuất, rủi ro hiện tại và tương lai, người trồng phải tìm hiểu về nông nghiệp hữu cơ prac-tices, tiêu chuẩn chứng nhận hữu cơ và quy trình. Tại thời điểm này, hầu hết người Vietnamese hiểu đơn giản là nông nghiệp hữu cơ có nghĩa là không sử dụng phân bón hóa học hoặc thuốc trừ sâu. Theo phỏng vấn của tôi, hầu hết người trồng và người tiêu dùng đã không hiểu đầy đủ về quá trình canh tác hữu cơ.

Ở Việt Nam, người được phỏng vấn của tôi đã tâm sự rằng nhiều khu vực có thể được chuyển đổi thành nông nghiệp hữu cơ cho sự đa dạng của cây trồng, động vật và nuôi trồng thủy sản. Tùy thuộc vào điều kiện sinh thái, các loại cây trồng hữu cơ khác nhau có thể được áp dụng ở các khu vực khác nhau. Lúa hữu cơ có thể trồng ở đồng bằng sông Cửu  Long, Tây Nguyên và miền núi. Tuy nhiên, quy mô canh tác quy mô nhỏ là một thách thức quan trọng đối với việc phát triển canh tác hữu cơ ở Việt Nam. Đặc biệt, quản lý nước, tưới tiêu và quản lý dịch hại là khó khăn nhất vì kích thước trangtrại nhỏ scale được đóng cửa với các trang trại thông thường. Với 60% nông dân quy mô nhỏ ở Việt Nam, thách thức mất mùa trong 2 năm đầu tiên không khuyến khích nông dân chuyển đổi sang hữu cơ.

Một chuyên gia về nông nghiệp sinh thái ở miền Bắc Việt Nam (trong một cuộc phỏng vấn cá nhân vào tháng 7 năm 2019) cho rằng việc áp dụng nông nghiệp hữu cơ giữa các nông hộ nhỏ (tức là nông dân trực tiếp) vẫn còn thấp. Các sáng kiến xung quanh việc này nằm trong liên kết nhỏ, phân mảnh, được hỗ trợ bởi các phi chính phủ địa phương hoặc các hành động quy mô nhỏ khác. Các sáng kiến được hỗ trợ bởi các nhà tài trợ lớn hơn có thể thấy những lợi ích của việc xuất khẩu các sản phẩm hữu cơ trở lại thị trường của họ (s), do đó, các chi phí liên quan là quá cao cho bất kỳ nông hộ nhỏ (nông dân trực tiếp) để áp dụng.

 

Theo người được phỏng vấn của tôi, việc áp dụng nông nghiệp hữu cơ có thể tăng lên nếu có là các chính sách và chương trình hỗ trợ rõ ràng, có động cơ và nhiệt huyết (cùng với việc dán nhãn nông nghiệp hữu cơ theo các thuật ngữ đơn giản hơn cho thị trường địa phương). Đó sẽ là sản phẩm hữu cơ giá cả phải chăng cho người tiêu dùng thực phẩm Việt Nam, tức là người nông dân trước tiên và sau đó tiếp cận khách hàng / người tiêu dùng bán lẻ (trong khu vực và quốc tế) trong thời gian tới tương lai. Xu hướng cạnh tranh của nông nghiệp hữu cơ giữa các sáng kiến ​​trong quốc gia DNÁ / khu vực có thể là một yếu tố để thu hút công chúng và thanh niên và các thành phần xã hội khác thực hiện những chuyển đổi này cùng với sự hỗ trợ của mạng xã hội

 

 

Sau khi tương tác với công ty chứng nhận hữu cơ quốc tế TP.HCM (giao tiếp cá nhân vào tháng 7/2019), rõ ràng các chuyên gia tư vấn hữu cơ đóng vai trò then chốt trong việc kếtnối nông nghiệp hữu cơ Việt Nam và xu hướng toàn cầu. Canh tác hữu cơ vừa phát triển tại Việt Nam trong 6 -7 năm trở lại đây. Nhiều người biết về nông nghiệp hữu cơ, nhưng chỉ trong điều kiện rất chung chung. Câu hỏi vẫn là: nông nghiệp organic hiệu quả là gì? Làm thế nào để làm điều đó? Thị trường thực phẩm hữu cơ là gì? Đây là những câu hỏi quan trọng đối với phần lớn nông dân Việt Nam.

Ngoài ra, do sự phát triển nông nghiệpcơ thể mong manh, hầu hết mọi người có xu hướng nghĩ rằng việc áp dụng canh tác hữu cơ là một bài tập sang trọng. Văn hóa của người trồng Việt Nam thích đi nhanh và thành công, thay vì từ từ. Do đó, cần có sự tư vấn hữu cơ nghiêm ngặtđể tư vấn cho nông dân về những rủi ro lớn cần tránh.

Một cán bộ chính quyền tỉnh An Giang (tháng 7/2019) cho rằng việc áp dụng canh tác hữu cơ ở ĐBSCL còn nhiều thách thức do chínhsách chăn nuôi chưa rõ ràng. Phong trào nông nghiệp hữu cơ đã tăng về số lượng nhưng không chất lượng. Thị trường không phân biệt giữa thực phẩm hữu cơ và phi hữu cơ, vì vậy rất khó để khuyến khích nông dân làm như vậy.

Một nhà nghiên cứu tại TPHCM (tháng7/2019) nhấn mạnh, việc áp dụng canh tác hữu cơ là rất cần thiết. Tuy nhiên, chi phí sản xuất cao của thực hành canh tác hữu cơ có thể không được áp dụng để mở rộng quy trình, nhưng nó có thể được áp dụng cho một thị trường nhánh trong khu vực đô thị. Thực hành canh tác hữu cơ vẫn còn cá biệt và ở quy mô nhỏ. Chính phủ có thể thúc đẩy kế hoạch sử dụng đất thích hợp cho nông nghiệp hữu cơ và thực thi công bằng tiếp cận thực phẩm hữu cơ.

Bên cạnh vấn đề kỹ thuật, phát triển nông nghiệp hữu cơ đòi hỏi nguồn nhân lực được đào tạo bài bản. Nông dân và nhân viên khuyến nông phải được đào tạo về quy trình canh tác hữu cơ. Để trở thành một nông dân hữu cơ, họ phải biết về quy trình chứng nhận, thị trường và có các kỹ năng kinh doanh khác. Tuy nhiên,  rất ít đào tạo được cung cấp bởi chương trình dịch vụ mở rộng trang trại chính thức trên toàn quốc. Người trồng hữu cơ chủ yếu nhận được hỗ trợ đào tạo từ các tổ chức phi chính phủ và khu vực tư nhân hoặc tư vấn hữu cơ. Ngoài ra, nông dân đã tìm hiểu về trồng trọt thông thường sử dụng hóa chất trong nhiều năm. Để thúc đẩy canh tác hữu cơ, có thể mất khá nhiều thời gian.

Lúa gạo là loại cây trồng phổ biến nhất ở Việt Nam. Việt Nam là nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới kể từ những năm 2000 (Demont và Rutsaert 2017). Tuy nhiên, một người trồng lúa hữu cơ ở thành phố Hải Phòng (tháng9/2019) khẳng định nước này chỉ tập trung vào gạo thông thường để đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu. Gạo hữu cơ kém phát triển và không được ghi nhận ở Việt Nam. Chuyển từ thông thường sang hữu cơ đã nổi lên gần đây (Hay et al. 2018). Ở đồng bằng sông Cửu Long, lúa hữu cơ được trồng bởi các công ty tư nhân và hợp tác xã nông nghiệp - văn hóa, và nông dân cá nhân (Bảng  12.3).

Một người trồng lúa sinh thái ở Đồng Tháppr ovince (giao tiếp cá nhân vào tháng 7/2019), bàytỏ quan điểm nông dân trồng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long (quê ông Võ Văn Tiến) lạm dụng thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ và phân bón hóa học gây ô nhiễm môi trường. Điều này created một tác động tiêu cực đến môi trường, bao gồm các cuộc tấn công dịch hại và bệnh tật, thiệt hại cho hệ sinh thái và cây trồng

 

 

1 Ông Võ là một nông dân trẻ, người đã nhận ra những vấn đề của việc sử dụng hóa chất trong các cánh đồng lúa của mình và cảnh quan dựa trên lúa xung quanh. Năm2014, ông thu hồi được 2 ha lúa sinh thái được sử dụng để trồng 3 vụ lúa thông thường mỗi năm tại xã Thượng Thượng Tiên, huyện Hồng Ngư, tỉnh Đồng Tháp (ĐBSCL). Sau thành công này với lúa sinh thái, anh quyết định thuê  40 ha đất nông nghiệp lân cận để trồng lúa sinh thái vào năm 2016. Năm 2018, ông đã mở rộng thêm 80 ha mô hình lúa sinh thái tại một khu vực khác ở tỉnh Long An (Đồng bằng sông Cửu Long).

       

Bảng 12.3  Canh  tác lúa hữu cơ ở đồng bằng sông Cửu Long, Vietnam

 

 

 

 

 

Tên của

 

 

 

công ty/

Diện tích canh tác

 

 

Growers

(ha)/hộ gia đình

Chứng nhận/ Tiêu chuẩn

Vị trí

 

 

 

 

Tân Vương

250 ha

Usda

Cà Mau)

Công ty

 

 

 

 

 

 

 

Viên Phú Hữu Cơ

300 ha

USDA và EU

Cà Mau)

Gạo

 

 

 

 

 

 

 

Cô May Croup

50 ha

Usda

Cà Mau)

 

 

 

 

Đại Dương Xanh

80 ha

Usda

Cà Mau)

Công ty

 

 

 

 

 

 

 

Cao Ông Thọ

170 ha (2019)

Thủ tục địa phương sử dụng hữu cơ

Cà Mau)

 

 

thủ tục (không xác nhận)

 

 

 

 

 

 

136 ha (2018)

Bà bán hết gạo cho đến tháng 5.

 

 

 

2019 – nếu gạo được bảo quản lâu hơn,

 

 

 

chất lượng đi xuống.

 

 

 

 

 

 

 

Thiếu cơ sở vật chất để lưu trữ vòng

 

 

 

năm – thiếu đầu tư

 

 

 

 

 

Hòa Năng

50 ha

Usda

Tỉnh Bến Tre

Công ty

 

 

 

 

 

 

 

Tân Vương

10 (5 hộ gia đình)

Usda

Kiên Giang

Công ty

 

 

Tỉnh

 

 

 

 

Trung An

100 (Comp bấtkỳ

Trong tiến trình quốc tế

Kiên Giang

Công ty

trang trại)

Chứng nhận

Tỉnh

 

 

 

 

Lua Tom Hữu

37 ha (2018), 45

Sản phẩm địa phương - sử dụng hữu cơ

Kiên Giang

Công ty

hộ gia đình/nông dân

thủ tục canh tác (không xác nhận)

Tỉnh

 

 

 

 

 

34 ha (2019)

 

 

 

 

 

 

Ho Quang (H o Quang)

9,3 ha

Usda

Sóc Trăng

 

 

 

Tỉnh

 

 

 

 

Công ty TNHH Ecotiger

50 ha

USDA, CHÂU ÂU, JAS

Trà Vinh

Công ty

 

 

 

 

 

 

 

Gạo Tân Đạt

60 ha

Usda

Vĩnh Long

Hợp tác

 

 

Tỉnh

 

 

 

 

Tâm Việt

80 ha

Không xác nhận

Long An)

Gạo sinh thái

 

 

 

 

 

 

 

Former Tâm Việt

40 ha

Không xác nhận

Hồng Tơ

Gạo sinh thái

 

 

Quận, Đông

 

 

 

Tháp

 

 

 

 

 

Nguồn: Tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau (phỏng vấn chuyên sâu) - dữ liệu được thu thập vào tháng 7 năm 2019

Thiệt hại. Sức khỏe của người tiêu dùng và người chăn nuôi đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Ngoài ra, đồng bằng sông Cửu Long bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu, hạn hán và nước biển dâng. Nông nghiệp với sự đa dạng của hệ sinh thái có thể giúp đối phó với những thách thức này. Nông nghiệp sinh thái sẽ cung cấp thực phẩm an toàn không chỉ choViệt Nam mà còn cho cả thế giới. Việc áp dụng canh tác sinh thái cũng sẽ tạo công ăn việc làm cho thanh niên địa phương và nông dân quy mô nhỏ. Người trồng lúa sinh thái này cũng đưa ra quan điểm rằng người tiêu dùng không chỉ không rõ ràng về các tiêu chuẩn hữu cơ, nhưng họ không nhận thức được tác động của thuốc trừ sâu còn sót lại đối với sức khỏe của họ.

 
Một nông dân trồng lúa hữu cơ ở hải Phòng (truyền thông cá nhân vào tháng 7/2019) đã chứng thực rằng nông dân không chỉ nên biết về canh tác lúa hữu cơ mà còn hiểu được mục tiêu và giá trị của hệ thống dựa trên lúa hữu cơ. Thu nhập từ lúa xay xát không khuyến khích nông dân trồng lúa hữu cơ. Phải mất thời gian và nguồn lực để chuẩn bị đất thông qua phân bón hữu cơ, nhưng nó có năng suất thấp, khi hệ sinh thái không ổn định. Nông dân cần tìm hiểu các giá trị của hệ thống canh tác lúa hữu cơ như giá trị đa dạng sinh học và giá gạo hữu cơ. Nếu không có giá cao cho gạo hữu cơ, nông dân sẽ bán nó như gạo thông thường. Tuy nhiên, hệ thống canh tác lúa hữu cơ có sự đa dạng của các giá trị có thể được lập luận như là một cải tiến cho sinh kế.

Một nhà bán buôn gạo hữu cơ tại TP HCM (giao tiếp cá nhân vào tháng9/2019) đã mạo hiểm đưa ra ý kiến rằng có sự hiểu lầm và không tin tưởng về các tiêu chuẩn hữu cơ. Nhiều người hiểu lầm về chứng nhận hữu cơ. Họ hiểu nông nghiệp hữu cơ là nông nghiệp an toàn mà không cần sử dụng chemicals. Họ  coi VietGAP (Thực hành nông nghiệp tốt Việt Nam) hay Global GAP (Thực hành nông nghiệp tốt) là nông nghiệp hữu cơ. Ví dụ, một nhóm nông dân trồng lúa ở huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, không phân biệt giữa GAP và tiêu chuẩn organic quốc tế. Họ đã áp dụng tiêu chuẩn VietGAP vào gạo vào năm 2017 và tin rằng đó là gạo hữu cơ.

Người được phỏng vấn của tôi tiếp tục khẳng định rằng sản xuất gạo hữu cơ có nhiều tiến triển hơn sản xuất trái cây vì chi phí trên trang trại gạo thấp hơn so với trái cây và rau quả. Hệ thống lúa - tôm ở Đồng bằng sông Cửu Long có tiềm năng rất tốt vì nông dân ít có khả năng sử dụng hóa chất trên tôm và lúa.

Trong một cuộc thảo luận nhóm tập trung giữa tôi và bốn nhà nghiên cứu khác vào tháng 9 năm 2018, nổi lên rằng có một sự khác biệt nhỏ trong nhận thức về một tiêu chuẩn hữu cơ và trong nước quốc tế của người ái mộ. Chỉ có một vài doanh nghiệp và nhà bán buôn khám phá sự khác biệt này. Người tiêu dùng có rất ít mối quan tâm về tiêu chuẩn hữu cơ. Người tiêu dùng Việt giàu có, có một nền văn hóa tiêu thụ các sản phẩm nhập khẩu, và họ sẵn sàng trả tiền cho thực phẩm hữu cơ nhập khẩu từ các nước khác.

Trong cuộc giao lưu cá nhân vào tháng 9/2019 giữa tôi và hai nhà nghiên cứu khác, đã có những vấn đề đáng lo ngại liên quan đến gạo hữu cơ tại thị trường TP.HCM. Người tiêu dùng không tin tưởng chứng nhận hữu cơ địa phương, nhưng phí chứng nhận liên quốc gia cao. Nông dân và những người tham gia khu vực tư nhân không thể áp dụng. Một số công ty gạo tư nhân tại cám dỗ để có được chứng nhận quốc tế, nhưng có rất ít thị trường xuất khẩu cho gạo hữu cơ, vì vậy họ giữ gạo 2 năm trong kho. Một tỷ lệ nhỏ người tiêu dùng quan tâm đến tiêu chuẩn interna-tional bởi vì nó được tổ chức với tin cậy cao của người tiêu dùng. Người tiêu dùng ít tin tưởng vào thị trường trong nước (các doanh nghiệp xã hội rau hữu cơ).

Trong một thông tin liên lạc cá nhân, một quan chức chính phủ ở tỉnh An Giang đã đưa ra quan điểm rằng những người trồng thực phẩm xuất khẩu, tìm kiếm các chứng nhận quốc tế như EU để chứng nhận sản phẩm của họ, và họ có thể biết về tiêu chuẩn. Tuy nhiên, phần lớn nông dân quy mô nhỏ không biết hoặc nhận ra rằng rau hữu cơ / sản phẩm phải được trồng dựa trên tiêu chuẩn, bao gồm phê duyệt, đánh  giá và giám sát. Đó là lý do tại sao nhiều nông dân quy mô nhỏ mang sản phẩm chưa được chứng nhận của họ ra thị trường như là sản phẩm hữu cơ. Điều này ảnh hưởng đến niềm tin của thị trường hữu cơ tại Việt Nam.

Một nhà chứng nhận hữu cơ tại Thành phố Hồ Chí Minh (thông tin cá nhân vào tháng7 năm 2019) tuyên bố rằng nhận thức về các tiêu chuẩn trong nước và quốc tế về thực phẩm hữu cơ và thị trường thực phẩm hữu cơ đã được tăng lên. Tiêu chuẩn quốc tế lúc đầu rất khó khăn, nhưng Việt Nam cần một hệ thống tốt, bao gồm cả việc xây dựng và thực thi có hệ thống nông nghiệp hữu cơ và công nghiệp hữu cơ (liên kết liên ngành và cách tiếp cận đa đại lý, cũng như chia sẻ thông tin một cửa). Điều này sẽ đi một chặng đường dài hướng tới quản lý tốt hơn các tiêu chuẩn.

Một nhận thức khác là người tiêu dùng không cần chứng nhận, họ cần thực phẩm thực sự, an toàn. Đây là quan điểm được một chuyên gia nông nghiệp sinh thái ở miền Bắc Việt Nam đưa ra trong một thông tin cá nhân vào tháng 7 năm 2019. Một số tổ chức chứng nhận hữu cơ quốc tế có thể được tin cậy. Tuy nhiên, nhiều chứng nhận VietGAP không thể tin tưởng. Hầu hết các công ty không có tiền để yêu cầu hoặc lặp lại các cuộc kiểm tra. Họ đã sử dụng chứng nhận đã hết hạn để giao dịch sản phẩm. Họ đã lừa dối người dùng. Ví dụ, chỉ có 15 trang trại được chứng nhận nhưng các sản phẩm nói đã được thu hoạch từ 30 trang trại.

Phóng viên báo Người Đưa Tin tại TP Cần Thơ (trong một cuộc truyền thông cá nhân vào tháng 7/2019) cho biết, tại thị trường Việt Nam chưa có định nghĩa chính xác về tiêu chuẩn hữu cơ đối với gạo và các sản phẩm khác. Nhiều người tiêu dùng đang nhầm lẫn với các nhãn hữu cơ hoặc thị trường. Hầu hết người tiêu dùng mua các sản phẩm gạo vì họ tin tưởng nó, hoặc họ tin tưởng những người có ảnh hưởng hoặc những người chuyên nghiệp đã giới thiệu họ với các sản phẩm. Một doanh nghiệp nhỏ không thể chứng nhận theo tiêu chuẩn quốc tế trong khi người tiêu dùng tin tưởng mua gạo vì hương vị và thương hiệu của nó. Các sản phẩm hữu cơ được chứng nhận quốc tế làm cho chi phí sản xuất cao và điều này không khuyến khích khách hàng có thu nhập trung bình hoặc thấp mua gạo hữu cơ được chứng nhận.

Một người trồng rau an toàn tại thành phố Long Xuyên, An Giang, cho rằng nhu cầu cao về thực phẩm hữu cơ tại các đô thị (giao tiếp cá nhân trong tháng 7/2019). Tuy nhiên, người tiêu dùng không hiểu đầy đủ về các sản phẩm hữu cơ, ngay cả trong các nhóm giáo sư cũng không nhận thức được thực phẩm hữu cơ. Có rất nhiều nhãn về thực phẩm hữu cơ tại thị trường Tp HCM. Một số sản phẩm được chứng nhận quốc tế, rất ít sản phẩm trong nước, nhưng các sản phẩm khác được tự dán nhãn hữu cơ. Có sự kết hợp giữa các sản phẩm hữu cơ thật và giả trên thị trường khiến người tiêu dùng hoang mang. Người tiêu dùng có xu hướng tin tưởng vào thương hiệu của sản phẩm hơn là tiêu chuẩn chứng nhận hữu cơ.

Một người trồng hữu cơ quy mô lớn ở tỉnh Bình Phước (giao tiếp cá nhân vào tháng 7/2019) đã có những lo ngại về tiêu chuẩn quốc tế chứ không phải tiêu chuẩn địa phương hoặc trong nước. Tiêu chuẩn trong nước thường dễ được chứng nhận, thấp về chất lượng và niềm tin. Đáng ngạc nhiên là người trồng muốn chứng nhận tiêu chuẩn quốc tế xác nhận cho thị trường trong nước.

Một người trồng lúa sinh thái ở tỉnh Đồng Tháp cho biết, nhiều nông dân muốn mua thực phẩm hữu cơ được chứng nhận quốc tế vì nhiều lý do (cá nhân vào tháng 7/2019). Họ có rất ít sự tin tưởng về chất lượng của các sản phẩm được chứng nhận tại địa phương. Ví dụ, hầu hết mọi người đều nhận thấy rau được chứng nhận VietGAP tương tự như các loại rau chưa được chứng nhận tại các chợ địa phương. Người trồng này đã kinh nghiệm thực thi và giám sát yếu kém của quy trình chứng nhận VietGAP, dẫn đến chất lượng thấp và độ tin cậy thấp.

Một chứng nhận quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh (giao tiếp cá nhân vào tháng 7 năm 2019) tuyên bố rằng tiêu chuẩn hữu cơ quốc gia Việt Nam không được công nhận bởi các tiêu chuẩn liên ngành khác hoặc được các nước nhập khẩu chấp thuận. Việc công nhận là đặc biệt quan trọng bởi vì nó nêu sự chấp nhận của thị trường xuất khẩu. Nếu việc công nhận không được chấp thuận, thương mại sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng.


12.5 Triển vọng chính sách và nghiên cứu nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam

Chính sách nông nghiệp của Việt Nam mặc dù trở nên cụ thể hơn, có thể sử dụng cải tiến hơn nữa. Một chuyên gia hữu cơ ở miền Bắc Việt Nam cho rằng kể từ khi dự án nông nghiệp hữu cơ đầu tiên được giới thiệu vào năm 2005, các chính sách về canh tác hữu cơ đã bị bỏ quên ở Việt Nam (giao tiếp cá nhân vào tháng 7 năm 2019). Sau 7 năm thực hiện dự án, chỉ có 20 nhóm nông dân theo dự án sản xuất rau hữu cơ trên thị trường. Người tiêu dùng có xu hướng biết thêm về nông nghiệp hữu cơ kể từ đó.

Gần đây, Chính phủ Việt Nam đã ban hành khung pháp lý và chính sách để ủng hộ nông nghiệp hữu cơ. Tại Việt Nam, tiêu chuẩn hữu cơ (TCVN 110412017) được Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành ngày 29/12/2017 bao gồm (1) TCVN 11041-1: 2017  – nông nghiệp hữu cơ – phần một: yêu cầu chung về sản xuất, chế biến và dán nhãn cho sản phẩm hữu cơ; (2) TCVN 11041-2:2017–nông nghiệp hữu cơ–part 2: cây trồng hữu cơ; (3) TCVN 11041-3:2017-nông nghiệp hữu cơ–phần 3: chăn nuôi hữu cơ; (4) TCVN 11041-4:2017- nông nghiệp hữucơ–phần 4: yêucầu đánh giá và chứng nhận tổ chức hệ thống sản xuất, chế biến hữu cơ (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn  2019).

Ngày 26/12/2018, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành 4 tiêu chuẩn hữu cơ cho (1) TCVN 11041-5:2018 nông nghiệp hữu cơ – phần 5: Gạo hữu cơ; (2) TCVN 11041-6:2018 nông nghiệp hữu cơ – phần 6: Chè Organic; (3) TCVN 11041-7:2018 nông nghiệp hữu cơ – phần 7: Sữa hữu cơ; (4) TCVN 11041-8:2018 nông nghiệp hữu cơ–phần 8: Tôm hữu cơ. Tuy nhiên, không có tiêu chuẩn hữu cơ cho nuôi trồng thủy sản, cây thuốc, rau, trái cây, cà phê và giấy.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng Đề án thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ 2019 - 2025 và tầm nhìn đến năm 2030 (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 2019 - 2025). Một số chính sách khuyến khích đầu tư, nhưng không ủng hộ chi tiết cho nông dân quy mô nhỏ và doanh nghiệp nhỏ để tiếp cận các chính sách. Không có hướng dẫn thực hiện tiêu chuẩn quốc gia theo một thành viên của hiệp hội nông nghiệp hữu cơ Việt Nam trong một thông tin liên lạc cá nhân vào tháng 7 năm 2019. Không có tiêu chuẩn hữu cơ nào của Việt Nam được áp dụng trong thực tế. Tiêu chuẩn Việt Nam hiện hành không được công nhận theo các tiêu chuẩn quốc tế và khu vực khác.

Theo quan điểm của một tổ chức chứng nhận quốc tế tại Tp HCM (giao tiếp cá nhân vào tháng 7 năm 2019), rất khó để tiếp cận nguồn vốn từ chính phủ do thiếu thông tin về các phương pháp hỗ trợ, quy trình quản trị phức tạp làm nản lòng người trồng. Các công ty lớn có thể tiếp cận khoản vay từ các chính sách của chính phủ, nhưng các công ty nhỏ và người trồng không thể tiến cận quỹ này.

Chính phủ Việt Nam đã ban hành các chính sách hỗ trợ nông nghiệp hữu cơ. Một cán bộ chính phủ thừa nhận rằng nó vẫn còn rất chung chung và thiếu một quy trình chi tiết để nông dân tiếp cận (giao tiếp cá nhân vào tháng 7 năm 2019).

Trong cuộc trò chuyện với một người trồng lúa hữu cơ ở Đồng Tháp và nhà bán lẻ tại TP HCM vào tháng 7/2019, một vài chủ đề chính đã xuất hiện. Có chính sách hỗ trợ nông dân, doanh nghiệp thực hiện canh tác hữu cơ. Tuy nhiên, ngân sách của các chính sách không đi đúng người vì nhiều lý do. Đầu tiên, có chính sách nhưng nó thiếu các chi tiết và hướng rõ ràng cho nông dân để truy cập. Thứ hai, chính sách bị mắc kẹt ở cấp chính quyền địa phương, những người hỗ trợ người thân của họ, những người không quan tâm đến việc nuôi trồng hữu cơ. Một quy định mới (107/2018) đã giảm nút thắt cổ chai cho các công ty gạo xuất khẩu, chẳng hạn như gạo hữu cơ và dinh dưỡng. Không có quy tắc hoặc quy định để quản lý nhãn hiệu hữu cơ (thị trường không được kiểm soát). Điều này dẫn đến tự qui định trên các sản phẩm hữu cơ tiêu chuẩn dẫn đến người tiêu dùng hợp nhất. Điều này ảnh hưởng đến thị trường hữu cơ. Có một nhu cầu cho một cơ chế để quản lý nó.

12.5.1 Nhận thức về nghiên cứu nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam

Nghiên cứu về nông nghiệp hữu cơ vẫn chưa được phát triển ở Việt Nam mặc dù các chính sách nông nghiệp hữu cơ đã được ban hành gần đây.

Bốn Trưởng khoa Nông nghiệp tại bốn trường đại học công lập và một trường đại học tư thục, Viện Nghiên cứu (IPSAR) thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Bộ NN&PTNT), Học viện Nông nghiệp Việt Nam và một chứng nhận hữu cơ quốc tế ở miền Nam Việt Nam, các nhà nghiên cứu, nông dân và tư nhân đã được phỏng vấn. Hầu hết trong số họ nói rằng có rất nhiều cơ hội cho nông nghiệp hữu cơ phát triễn, nhưng có rất ít nghiên cứu trong lĩnh vực này. Cần Thơ và Trường Đại học Kiên Giang chưa thực hiện bất kỳ dự án nào để nghiên cứu về canh tác hữu cơ. IPSAR là một tổ chức tư tưởng của Bộ NN&PTNT có trách nhiệm nghiên cứu chính sách đối với canh tác nông nghiệp. Tuy nhiên, viện nghiên cứu này có rất ít dự án nghiên cứu và hoạt động về nông nghiệp hữu cơ. Một số nhà nghiên cứu nghiên cứu nông nghiệp hữu cơ (cây trồng), nhưng không có nghiên cứu chính sách về nông nghiệp hữu cơ đã được khám phá. Trong tương lai, IPSAR sẽ nghiên cứu chính sách hỗ trợ nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam.

Đại học Cần Thơ là đầu mối nghiên cứu nông nghiệp khu vực phía Nam; tuy nhiên, các giảng viên nông nghiệp đã báo cáo rằng họ đã không đầu tư trong lĩnh vực nghiên cứu này. Kiên Giang và Đại học An Giang là hai tỉnh có đội ngũ giảng viên nông nghiệp, nhưng rất ít nghiên cứu về canh tác hữu cơ. Trường Đại học Tây Đô là cơ sở giáo dục tư thục không nghiên cứu nông nghiệp hữu cơ.

Một điểm thú vị được nêu ra bởi một cơ quan chứng nhận hữu cơ quốc tế là về việc thiếu nghiên cứu cho các đầu vào thay thế để thay thế hóa chất. Việt Nam chưa có nghiên cứu thay thế hóa chất bằng sản phẩm sinh học, quản lý dịch hại, sản phẩm thay thế hoặc hỗ trợ nông dân chuyển đổi sang canh tác hữu cơ. Cho đến nay, có rất ít dự án nghiên cứu về chủ đề này.


12.5.1.1 Động cơ và bài học thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam

Các doanh nghiệp tư nhân là nhân tố chủ chốt trong việc đầu tư vào nông nghiệp hữu cơ ở miền Nam Việt Nam. Họ có một nhận thức khác nhau về việc áp dụng các nền văn hóa nông nghiệp hữu cơ. Một công ty gạo ở tỉnh An Giang tin rằng đầu tư vào gạo hữu cơ là triết lý tiếp thị của công ty. Các công ty tôm hữu cơ khác đầu tư vào nuôi hữu cơ vì giá trị gia tăng cho nông dân, công ty và môi trường. Một người bán buôn gạo hữu cơ tin rằng ba trình điều khiển của việc áp dụng organic nông nghiệp: (1) tăng khả năng cạnh tranh của công ty, (2) cải thiện thu nhập cho nông dân, và (3) tạo ra thực phẩm an toàn hơn cho người tiêu dùng. Một người trồng lúa hữu cơ khác có ba lý do để mong muốn phục hồi sản xuất lúa sinh thái: (1) kinh nghiệm canh tác sinh thái,  (2) lạm dụng hóa chất dẫn đến pollution, và (3) bảo tồn các thực hành canh tác truyền thống

12.5.1.2 Bài học từ phát triển nông nghiệp hữu cơ 

Năm 2018, một công ty lúa đã hợp tác với nông dân trồng 50 ha lúa hữu cơ tại một trang trại nuôi tôm trên địa bàn tỉnh Cà Mau. Tuy nhiên, chỉ hơn 50% (27 ha) được xác nhận trong 2018 vì nhiều nông dân đã không tuân thủ các thủ tục certification hữu cơ quốc tế.

Một công ty gạo tư nhân đầu tư vào khu vực sản xuất lúa của họ, nơi ông có thể hợp tác với nông dân để sản xuất gạo hữu cơ (không xác nhận). Vụ mùa năm 2018, bà thu hoạch được 136 ha mà không có chứng nhận quốc tế. Cô có một mạng lưới người tiêu dùng hữu cơ ở thành phố Hồ Chí Minh, nơi cô tin tưởng rằng tất cả gạo hữu cơ của cô đã được bán một cách dễ dàng.

Một nhà bán buôn tư nhân tạiTp HCM tin rằng người tiêu dùng không tin tưởng sản phẩm nếu nó không được chứng nhận hữu cơ. Tuy nhiên, một số người vẫn không tin tưởng các sản phẩm ngay cả khi nó được chứng nhận.


214                                                                      V. K. Nguyễn

 

12.6 Kết luận

Sự chon lựa cánh tác hữu cơ là khả thi tại Việt Nam. Tuy nhiên, một số người cho rằng quy mô trang trại quy mô nhỏ có nhược điểm trong việc chuyển đổi từ canh tác thông thường sang canh tác hữu cơ. Đó là một thực tế là rất khó để quản lý các trang trại hữu cơ và các trang trại thông thường bên cạnh cái khác. Nhận thức của các bên liên quan về canh tác hữu cơ còn thấp. Điều này có liên quan đến các nghiên cứu trước đây ở Đông Nam Á và Châu Âu (My et al. 2017; Mutiara và Satoshi  2017; Hossain và cộng sự. Năm 2007; Janssen và Hamm  2011). Lúa gạo là cây trồng phổ biến nhất ở châu Á. Trồng lúa thông thường đòi hỏi phải sử dụng quá nhiều hóa chất ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên và cá (Nguyen et al. 2018). Chuyển đổi sang canh tác lúa hữu cơ đã được thực hiện ở Đông Nam Á (Philippines và Indonesia) từ những năm 2000 (Piadozo et al. 2014; Digal và Placencia  2019; Heryadi và cộng sự. 2018). Các thành viên khu vực tư nhân và các tổ chức phi chính phủ đóng một vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ canh tác hữu cơ ở Việt Nam trong khi vai trò của các dịch vụ mở rộng của chính phủ là hạn chế. Phát hiện này có liên quan đến các nghiên cứu nhận thức trong canh tác lúa organic ở Philippines và Indonesia (Piadozo et al. Năm 2014; Heryadi và cộng sự. 2018). Niềm tin vào các tiêu chuẩn quốc gia và trong nước còn thấp nhưng cao trong các tiêu chuẩn quốc tế. Các chính sách của Chính phủ về canh tác hữu cơ do chính phủ Việt Nam khởi xướng, tuy nhiên, rất khó để các doanh nghiệp nhỏ và nông dân tiếp cận các nguồn lực này. Nghiên cứu hạn chế đã được thực hiện để nghiên cứu đầu vào nông nghiệp thay thế (phân bón hữu cơ và thuốc trừ sâu), quản lý dịch hại, cây trồng hữu cơ và động vật trong nghiên cứu ở các tổ chức và các trường đại học. Điều quan trọng là phải hỗ trợ các nhà trồng trọt quy mô nhỏ và các doanh nghiệp chuyển đổi nông nghiệp hữu cơ vì nó sẽ mang lại lợi ích xã hội, môi trường và kinh tế.

Tôi muốn cảm ơn những người tham gia đã trả lời các câu  hỏi. Đặc biệt, tôi  muốn cảm ơn trưởng nhóm PGS Việt Nam (bà Tú Tuyết Nhung) tại Việt Nam, Tổ chức Nghiên cứu Chính phủ (IPSAR), các trường đại học (Đại học Quốc gia TPHCM, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, An Giang, Cần Thơ và Tây Đô), các tổ chức khu vực tư nhân(Gạo Ông Thọ, Công ty Tân Vương, Tập đoàn Co May, Trang trại Ech Op, Trang trại Tâm Việt và Công ty Nông nghiệp hữu cơ Việt Hà), các tổ chức phi chính phủ (Trường Nông nghiệp sinh thái HEPA, Anh Ba Vì và Y-farm Mekong), cáctổ chức được chứng nhận hữu cơ quốc tế tại Việt Nam, người trồng, hiệp hội và các phương tiện truyền thông đã trả lờiphỏng vấn chuyên sâu. Tôi muốn ghi nhận sự đóng góp của SEARCA (Trung tâm Nghiên cứu và Nghiên cứu Sau đại học khu vực Đông Nam Á trong lĩnh vực nông nghiệp) trong việc tài trợ cho nghiên cứu này.


Tham khảo

Baumgartner U, Nguyen TH (2017) Chứng nhận hữu cơ cho chuỗi giá trị tôm ở Cà Mau, Việt Nam: một phương tiện để cải tiến hay tự kết thúc? Environ Dev Duy trì 19:987-1002

Bồ Nông Nghiệpp & Phát Trien Nong Thon (Bộ NN&PTNT) (2019)ắT đề án phát triển nông nghiệp h (bằng p)ữu c (u c)ơ Việt Nam giai đoạn Năm 2020–2030 (Dự thảo báo cáo tóm tắt: Kế hoạch phát triển nông nghiệp hữu cơ đến năm 2020–2030). Bo Nông Nghiệp & Phát Trien Nong Thon, Hà Nội

Bouttes M, Darnhofer I, Martin G (2019) Chuyển đổi sang canh tác hữu cơ như một cách để nâng cao năng lực adap-tive. Org Agric 9(2):235–247. https://doi.org/10.1007/s13165-018-0225-y


Braun G, Braun M, Kruse J, Amelung W, Renaud FG, Khoi CM et al (2019) Thuốc trừ sâu và chống sinh học trong gạo vĩnh cửu, xen kẽ hệ thống lúa-tôm và tôm vĩnh viễn của đồng bằng sông Cửu Long ven biển, Việt Nam. Environ Int 127:442 –451 Environ Int 127:442 –451 Environ Int 127:442–451 Environ

Creswell JW (1994) Thiết kế nghiên cứu: phương pháp tiếp cận định tính và định lượng. Sage, Luân Đôn

David W, Ardiansyah (2017) Nông nghiệp hữu cơ ở Indonesia: thách thức và cơ hội. Org Agric 7(3):329–338. https://doi.org/10.1007/s13165-016-0160-8

Demont M, Rutsaert P (2017) Tái cơ cấu ngành lúa gạo ViệtNam: theo hướng tăng tính bền ổn định. Tính bền vững 9(2):1–15. https://doi.org/10.3390/su9020325

Digal LN, Placencia SGP (2019) Các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng canh tác lúa hữu cơ: trường hợp của nông dân ở M'lang, Bắc Cotabato, Philippines. Org Agric 9 (2):199–210. https://doi. trang 10.1007/s13165-018-0222-1

Dũng T (2017, 19/12) Việt Nam tìm cách phát triển nông nghiệp hữu cơ bền vững. Kinh tế Việt Nam FiBL, IFOAM (2017) Thế giới thống kê nông nghiệp hữu cơ và mới nổi trends 2017.

FiBL và IFOAM

Gamboni M, Moscatelli S (2015) Nông nghiệp hữu cơ ở Ý: những thách thức và quan điểm. Org Agric 5(3):165–177. https://doi.org/10.1007/s13165-015-0098-2

Hay DV, Thanh NC, Kha LQ, An NV, Mạnh NV, Anh TT et al (2018) Mô hình hợp tác public– tư nhân trong sản xuất lúahữu cơ trong hệ thống canh tác lúa – tôm ở cửuLong, Việt Nam. MOJ Ecol Environ Khoa học viễn tưởng 3 (2):94–102

Heryadi DY, Noor TI, Deliana Y, Hamdani JS (2018) Vì sao nông dân trồng lúa hữu cơ chuyển sang canhtác thông thường? J Econ Duy trì Dev 9 (9): 179-185

Hossain ST, Sugimoto H, Ueno H, Huque SMR (2007) Áp dụng gạo hữu cơ để phát triển bền vững ở Bangladesh. J Org Syst 2(2):27 –37 J Org Syst 2(2):27–37 J Org Syst 2(2):27 –37

Hương NT (2017) Thực tế canh tác hữu cơ ở Việt Nam. Khoa Dược liệu và Thực vật thơm, Khoa Khoa học Làm vườn, Đại học Szent Itsvan, Budapest

IFOAM (2015). Định nghĩa về nông nghiệp hữu cơ. https://www.ifoam.bio/en/organic-landmarks/ định  nghĩa-hữu cơ-nông nghiệp2018

Janssen M, Hamm U (2011) Người tiêu dùng perception của các chương trình chứng nhận hữu cơ khác nhau ở năm nước châu Âu. [tạp chí bài viết]. Org Agric 1(1):31–43. https://doi.org/10.1007/  s13165-010-0003-y (s13165-010-0003-y)

Jouzi Z, Azadi H, Taheri F, Zarafshani K, Gebrehiwot K, Passel SV et al (2017) Hữu cơxa minh và nông dân quy mô nhỏ: cơ hội chính và thách thức. Ecol Econ 132:144 –154 Ecol Econ 132:144–154 Ecol Econ 132:144 –154

Liamputtong P (2009) Khung lý thuyết và lấy mẫu trong reesearch chất lượng. In: Liamputtong P (chủ biên) Phương pháp nghiên cứu định tính. Nhà xuất bản Đại học Oxford, South Melbourne Lockie S, Lyons K, Lawrence G, Mummery K (2002) Ăn  'Xanh':Động lực đằng sau hữu cơ

tiêu thụ thực phẩm ở Úc. Sociol Nông thôn 42(1):23–40

Loebnitz N, Aschemann-Witzel J (2016) Truyền đạt chất lượng thực phẩm hữu cơ ở Trung Quốc: nhận thức của người tiêu dùngvề các sản phẩm hữu cơ và ảnh hưởng của giá trị môi trường. Thực phẩm Qual Thích 50:102-108

Lyons K (1999) Chủ nghĩa môi trường doanh nghiệp và nông nghiệp hữu cơ ở Úc: trường hợp của Bác Tobys. Nông thôn Sociol 61(2):251–266

Mergenthaler M, Weinberger K, Qaim M (2009) Định giá người tiêu dùng về chất lượng thực phẩm và các thuộc tính an toàn thực phẩm tại Việt Nam. Chính sách Appl Econ Perspect 31(2):266–283

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2019) Đề án phát triển nông nghiệp nông thôn Việt  Nam giai đoạn2020-2030 (Kếhoạch phát triển nông nghiệp việt Namgiai đoạn 2020-  2030). Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Hà Nội

Mutiara VI, Satoshi A (2017) Những thách thức trong thị trường sản phẩm nông nghiệp hữu cơ ở Nam Á. Rev Agric Khoa học viễn tưởng 5:36-44

NHD của tôi, Rutsaert P, Loo EJV, Verbeke W (2017) Người tiêu dùngquen thuộc vàthái độ đối với chứng nhận chất lượng thực phẩm cho gạo và rau quả tại Việt Nam. Kiểm soát lương thực 82:74– 82 Nguyễn VK, Dumaresq D, Pittock J (2018) Tác động của việc tăng cường lúa gạo đối với các hộ gia đình nông thôn ở Đồng bằng sông Cửu Long: mối quan hệ mới nổi giữa sản xuất nông nghiệp, cung cấp thực phẩm hoang dã

và tiêu thụ thực phẩm. Thực phẩm Sec:1–15. https://doi.org/10.1007/s12571-018-0848-6

 

216                                                                      V. K. Nguyễn

Phạm L, Shively G (2019) Lợi nhuận của sản xuất rau hữu cơ tạiViệt Nam:

bằng chứng từ huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình. Tổ chức Agric 9:211-223

Piadozo MES, Lantican FA, Pabuayon IM, Quicoy AR, Suyat AM, Maghirang PKB (2014) Khái niệm và nhận thức của nông dân trồng lúa về nôngnghiệp hữu cơ: tác động đối với sự bềnvững của chương trình nông nghiệp hữu cơPhilippines. J ISSAAS 20(2):142 –156 J ISSAAS 20(2):142 –156 J ISSAAS 20(2):142–156

Ponti T d, Rijk B, van Ittersum MK (2012) Khoảng cách năng suất cây trồng giữa nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp thông thường. Agric Syst 118:1 –9 Agric Syst 118:1 –9 Agric Syst 118:1–9 Agric

Tashi S, Wangchuk K (2016) Hữu cơ so với sản xuất rice thông thường: đánh giá so sánh-ment trong điềukiện nông dân ởBhutan. Org Agric 6(4):255–265. https://doi.org/10.1007/  s13165-015-0132-4

Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam (2017) Giải pháp phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam. Trong: Diễnđàn quốc gia đầu tiên về nông nghiệp hữu cơ. Nhà xuất bản Nông nghiệp (Nha Xuyên Ban Nông Nghiệp), Thành phố Hồ Chí Minh

Wägeli S, Hamm U (2016) Nhận thức và kỳvọng của người tiêu dùng về chuỗi cung ứng thực phẩm hữu cơ địa phương. [tạp chí bài viết]. Org Agric 6(3):215–224. https://doi.org/10.1007/s13165-015-0130-6  Wang H, Moustier P, Lộc NTT, Thọ PTH (2012) Kiểm soát chất lượng rau an toàn theo tập thể hành động tại Hà Nội, Việt Nam. Proc Econ Tài chính 2:344-352

Wood R, Lenzen M, Dey C, Lundie S (2006) Một nghiên cứu so sánh về một số tác động môi trường của nông nghiệp thông thường và hữu cơ ở Úc. Agric Syst 89(2–3):324 –348 Agric Syst 89(2 –3):324–348 Agric Syst 89(2 –3):324–348 Agric


Nguyễn Văn Kiên lớn lên trong một gia đình trồng lúa quy mô nhỏ ở sócTrăng tỉnh Đồng bằng sông Cửu  Long, Việt Nam. Ông hiện là giảng viên cao cấp danh dự về Nông học tại Trường Môi trường và Xã hội Fenner, Đại học Quốc gia Úc, đồng thời là Người sáng lập công ty Mekong Organics Pty Ltd. Ông nhận bằng Cử nhân Quản lý Đất đai (2000) tại Đại học Cần Thơ, bằng thạc sĩ quản lý và phát triển môi trường (2006), tiến sĩ xã hội học (2013) từ Đại học Quốc gia Úc (ANU) và học bổng sau tiến sĩ (2014– 2016) từ Viện Luc Hoffmann (LHI), Trường Môi trường và Xã hội ANU Fenner. Ông là lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Nông thôn, Trường Đại học An Giang, Việt Nam, trong 5 năm (2013– 2018). Nghiên cứu của ông tập trung vào nông nghiệp, nông nghiệp bền vững và sinh kế, an ninh lương thực và quản trị nước và thích ứng với biến đổi khí hậu đối với các hộ gia đình nông thôn ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Từ năm 2017, ông đã tham gia liên kết Úc và Đông Nam Á trong việc thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ.

PHỤ TRÁCH BIÊN TẬP
 
Sáng lập & Cố vấn:

TRẦN ĐĂNG HỒNG, PhD

Ban Biên tập :

VÕ THANH NGHI
vothanhnghiag@yahoo.com.vn
NGUYỄN THANH LIÊM
liem68dvb@gmail.com


Địa chỉ liên lạc: thnlscantho.3@gmail.com


Đặc San:
Đặc san XUÂN CANH DẦN (2010)
Đặc san XUÂN TÂN MÃO (2011)
Đặc san XUÂN NHÂM THÌN (2012)
Đặc san XUÂN QUÝ TỴ (2013)
Đặc san XUÂN GIÁP NGỌ (2014)
Đặc san XUÂN ẤT MÙI (2015)
Đặc san XUÂN BÍNH THÂN (2016)
Đặc san XUÂN ĐINH DẬU (2017)

Đặc san "Lưu Bút Ngày Xanh I (2010)
Đặc san Lưu Bút Ngày Xanh II (2011)
Đặc san Lưu Bút Ngày Xanh III
https://www.facebook.com/groups
 
https://www.facebook.com/
groups/124948084959931/
 
Today, there have been 30427 visitors (59297 hits) on this page!